Chính sách

Cập nhật: 16:32 GMT - thứ tư, 6 tháng 7, 2011

Luật Cạnh tranh - cần một cách tiếp cận mới và thiết thực

12:00 | 25/04/2017

Như đã thành thông lệ, cứ sau chu kỳ khoảng 10 năm thực hiện, mỗi đạo luật ở nước ta lại được xem xét sửa đổi, trong đó phần lớn là các sửa đổi mang tính điều chỉnh và hoàn chỉnh kỹ thuật. Với Luật Cạnh tranh (ban hành năm 2004 và có hiệu lực từ năm 2005) có lẽ cũng đi theo hướng đó, nếu căn cứ vào dự thảo sửa đổi gần đây của Bộ Công Thương.

Mọi đạo luật cạnh tranh ra đời đều nhằm bảo vệ quyền tự do

cạnh tranh của các chủ thể kinh tế. Ảnh: THÀNH HOA

Xã hội, tuy nhiên, dường như đang chờ đợi một điều gì đó khác hơn, xứng tầm và thật sự thiết thực, đối với đạo luật quan trọng này.

Tại sao lại cần Luật Cạnh tranh?

Vẫn có sự hiểu biết một cách đơn giản rằng đã chuyển sang kinh tế thị trường thì đương nhiên có cạnh tranh và để cạnh tranh lành mạnh, chống gian lận hay “cá lớn nuốt cá bé”, cần có luật về cạnh tranh. Điều đó đúng nhưng chưa đi vào cốt lõi, thậm chí còn gây nhầm lẫn khi đánh giá và ứng xử với cả kinh tế thị trường lẫn quy luật cạnh tranh. Chẳng hạn, nhiều người vẫn đổ lỗi các hiện tượng xấu xa về đạo đức cho “kinh tế thị trường” và cho rằng cạnh tranh sẽ làm cho con người đối xử với nhau ngày càng xấu hơn, đặc biệt khi so sánh với trạng thái của nền kinh tế được kiểm soát bởi mệnh lệnh và kế hoạch...

Từ thế kỷ 18, Adam Smith đã phát hiện ra một chân lý rằng chỉ có trong tự do và thông qua các hoạt động kinh tế, con người mới thể hiện được bản ngã của mình, được làm cái mình muốn, làm điều mình có thể, và hiển nhiên đó là điều tốt và có ích cho cộng đồng. Vậy, trong nền kinh tế tự do đó, “cái xấu” đến từ đâu?

Nó đến từ các điều kiện và trạng thái khi tự do kia bị bóp méo, bị hạn chế hoặc có khuynh hướng bị thủ tiêu. Quyền tự do trong kinh tế thị trường chính là tự do cạnh tranh, và như một hệ quả tất yếu, tự do cạnh tranh sẽ dẫn đến độc quyền, tức kẻ mạnh sẽ lớn, sẽ thắng hoặc các kẻ bé và yếu hơn sẽ liên minh lại để ứng phó tự vệ, và khi đó cạnh tranh tự do sẽ không còn. Tất cả các nước có nền kinh tế thị trường đều đã trải qua buổi ban đầu sơ khai và hoang dã như vậy. Sự ngạo mạn của “kẻ thắng” và nỗi ấm ức, tức giận hay lo sợ của “kẻ thua” là căn nguyên tâm lý cho mọi điều xấu nảy sinh.

Chứng kiến thực trạng đó, một số người đã tiệm cận đến các giải pháp có tính cực đoan, đó là xóa bỏ thị trường và xây dựng lý thuyết cho một xã hội được kiểm soát và chỉ huy hoàn toàn bởi nhà nước. Những người này quan niệm rằng chỉ bằng sự kiểm soát như vậy, con người mới trở thành “người mới” và có thể tốt lên.

Trong khi đó, có những người khác đã tìm ra các nhân tố làm triệt tiêu tự do cạnh tranh, đó là sự độc quyền và liên minh giữa các chủ thể kinh tế. Họ xây dựng khuôn khổ pháp luật cho nền kinh tế thị trường, lấy luật chống độc quyền (Anti-Trust hay Anti-Monopoly) và luật kiểm soát liên minh kinh tế (Kartellrecht) làm nền tảng. Nói một cách khác, dù có thể được gọi tên khác nhau, mục tiêu cơ bản của luật về cạnh tranh chính là chống độc quyền hóa và kiểm soát các liên minh trong hoạt động kinh tế nhằm hạn chế hoặc triệt tiêu tự do cạnh tranh.

Về cách tiếp cận trong Luật Cạnh tranh hiện hành

Luật Cạnh tranh ban hành năm 2004 và các dự thảo sửa đổi đã được xây dựng trên cơ sở tham khảo các luật về cạnh tranh của nhiều nước trên thế giới. Về mặt hình thức, các văn bản luật này đề cập đến mọi nội dung có liên quan như kiểm soát tập trung kinh tế, hạn chế việc lạm dụng vị trí độc quyền của các doanh nghiệp và chống các hành vi cạnh tranh không lành mạnh. Tuy nhiên, điều đáng nói nhất là nó không toát lên tinh thần cũng như mục tiêu của kiểm soát cạnh tranh là gì.

Có thể nói rằng sau 12 năm thi hành, người dân, doanh nghiệp và xã hội vẫn chưa thấy và đo được tác dụng thực sự nào của Luật Cạnh tranh. Chắc chắn, điều được trông đợi không hẳn là số lượng các đơn khiếu nại nộp lên và số lượng các vụ việc đã được Cục Quản lý cạnh tranh của Bộ Công Thương giải quyết.

Như đã phân tích, mọi đạo luật cạnh tranh ra đời đều nhằm bảo vệ quyền tự do cạnh tranh của các chủ thể kinh tế. Quyền tự do cạnh tranh một khi được bảo đảm đồng nghĩa với việc đạt được hai mục tiêu chính sách như sau:

Thứ nhất, về mặt kinh tế, nó tạo điều kiện để các doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng như doanh nghiệp siêu nhỏ tồn tại và phát triển.

Thứ hai, về mặt xã hội, tự do cạnh tranh trong sản xuất - kinh doanh sẽ dẫn đến giảm giá thành, tăng năng suất lao động và nâng cao chất lượng sản phẩm, qua đó người tiêu dùng được hưởng lợi.

Rất tiếc rằng nếu lấy hai tiêu chí này làm thước đo thì Luật Cạnh tranh được thi hành từ năm 2005 cho tới nay chưa tạo được các tác động tích cực đáng kể.

Luật Cạnh tranh cần được sửa đổi theo định hướng nào?

Trước hết, không nên gắn Luật Cạnh tranh với mục tiêu kiểm soát trực tiếp các yếu tố đạo đức trong hành vi cạnh tranh hay bảo đảm cạnh tranh lành mạnh. Đạo đức kinh doanh chính là đạo đức của con người, nó phải được hình thành trước hết từ giáo dục, sau đó là nền tảng văn hóa của xã hội nói chung. Còn việc kiểm soát hành vi của các chủ thể kinh doanh khi vượt qua các ranh giới của đạo đức xã hội lại thuộc phạm vi điều chỉnh của nhiều khung khổ pháp luật khác nhau, trong đó biện pháp kiểm soát với cấp độ chế tài cao nhất chính là Bộ luật Hình sự. Tập trung liệt kê các hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong Luật Cạnh tranh cho mục tiêu giám sát và xử lý bằng phương tiện hành chính, do đó, sẽ vừa không cần thiết bởi chồng lấn với các luật khác, vừa thiếu tính khả thi.

Luật Cạnh tranh một khi được ban hành như một khung khổ pháp lý chuyên biệt cần hướng tới thực hiện hai nhiệm vụ chủ yếu, đó là chống độc quyền và giám sát các liên minh trong kinh doanh cho mục đích căn bản và trực tiếp là bảo vệ tự do cạnh tranh. Đối với chống độc quyền, cần lưu ý rằng ngoài sự ngăn cấm các hành vi “độc quyền hóa” (hay tập trung kinh tế) một cách cố ý và chủ động nhằm giảm thiểu hay loại trừ cạnh tranh, cũng cần kiểm soát chặt chẽ cả các doanh nghiệp trở thành độc quyền một cách tự nhiên do điều kiện khách quan hoặc các yếu tố ngẫu nhiên. Trong khía cạnh sau này, ngay chính tập đoàn Microsoft vào năm 2000 đã bị thẩm phán Hoa Kỳ Thomas Jackson áp dụng Luật Chống độc quyền (Anti-trust Act) để đưa ra phán quyết yêu cầu tách công ty thành hai phần độc lập để đảm nhiệm riêng lẻ đối với hệ điều hành Windows và các phần mềm còn lại.

Về cơ chế thực thi Luật Cạnh tranh, việc kiểm soát chống độc quyền và hình thành các liên minh nhằm cản trở cạnh tranh tự do luôn luôn là sự thách thức đối với các cơ quan quản lý nhà nước. Nhiệm vụ này đòi hỏi các năng lực chuyên môn đặc biệt của lực lượng cán bộ thừa hành cũng như các thẩm quyền pháp lý đặc thù. Dự thảo Luật Cạnh tranh sửa đổi của Bộ Công Thương đã bổ sung chức năng điều tra của cơ quan giám sát cạnh tranh, tuy nhiên điều đó hoàn toàn chưa đủ nếu thiếu các quy định cụ thể về các quy trình và thủ tục có liên quan.

Sau cùng, có một nguyên lý rất hệ trọng để bảo đảm tính thiết thực của Luật Cạnh tranh, đó là cần trao quyền cho các bên hưởng lợi cũng như bị hại, bao gồm doanh nghiệp và người tiêu dùng, tạo điều kiện để nhóm đối tượng này được khởi kiện tư pháp chống lại các hành vi cản trở cạnh tranh tự do và lành mạnh. Thiết nghĩ rằng mô hình tố tụng về cạnh tranh như dự thảo luật đề xuất cần phải có sự tham gia của tòa án, các cơ quan tư pháp và luật sư mới chứng tỏ bước cải cách thực sự.

Nguyễn Tiến Lập

Theo Saigontimes

undefined